Tăng cường công tác xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà
Được thành lập vào tháng 3 năm 1930, đến nay Đảng bộ Trà Vinh đã có lịch sử hoạt động 92 năm. Trong 92 năm qua, Đảng bộ Trà Vinh luôn quán triệt, vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng phù hợp với điều kiện và hoàn hoàn cảnh thực tế của tỉnh, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, lao động cần cù, sáng tạo trong xây dựng, phát triển tỉnh nhà, đã đạt được những thành tựu to lớn. Đồng thời, Đảng bộ cũng tích lũy được những kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa sâu sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị nói chung và công tác xây dựng Đảng nói riêng.

         Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 03/02/1930, Xứ ủy Nam kỳ được thành lập, Xứ ủy phân công đồng chí Ung Văn Khiêm, đồng chí Dương Quang Đông đến Trà Vinh xúc tiến việc thành lập các chi bộ Cộng sản, đồng chí Ung Văn Khiêm chỉ đạo thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở xã An Trường, quận Càng Long (có 5 đồng chí), đồng chí Dương Quang Đông thành lập chi bộ ở Cầu Ngang (có 3 đồng chí), chi bộ tỉnh lỵ Trà Vinh (có 3 đồng chí). Sau khi được thành lập, Đảng bộ tỉnh Trà Vinh đã lãnh đạo Nhân dân đẩy mạnh các cao trào hành động cách mạng, đặc biệt là lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành thắng lợi vào ngày 30/4/1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

         Gần 47 năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt từ sau ngày tái lập tỉnh (5/1992) đến nay, Đảng bộ Trà Vinh luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, xác định phát trỉển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Tỉnh uy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ngày càng đi vào cuộc sống, phát huy được truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; huy động được các nguồn lực trong tỉnh, trong nước và ngoài nước để phát triển kinh  tế - xã hội đảm bảo quốc phòng - an ninh, đặc biệt là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

         Thực hiện các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết TW 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết TW 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện :tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, Chỉ thị 06, 03 của Bộ Chính trị (khoá X và XI), Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các nghị quyết của Trung ương, của Bộ Chính trị về công tác tư tưởng, lý luận, công tác cán bộ, về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị…Trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng bộ, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các Chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết TW 4 (khóa XI và XII), thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Đề án về tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (thực hiện Nghị quyết 38-NQ/TU của Bộ Chính trị và Nghị quyết 18-NQ/TW hội nghị TW 7 (khóa XII), Đề án bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng...

         Năm 2021, năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng bộ, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 06 nghị quyết chuyên đề, 23 chương trình 41 kế hoạch, 17 Chỉ thị... để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ tỉnh, trong đó có 24 chương trình, kế hoạch, chỉ thị,... về công tác xây dựng Đảng. các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, chỉ thị... được triển khai quán triệt trong toàn Đảng bộ và đạt được những kết quả quan trọng.

         - Thực hiện Nghị quyết TW 4 (khóa XI và XII) đạt kết quả tích cực, ngăn chặn được tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ; khắc phục một số khuyết điểm, hạn chế trong công tác cán bộ, trong thực hiện các nguyên tắc sinh hoạt đảng; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp.

         - Công tác triển khai, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị được quan tâm, đã nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên vào chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” ngày càng đi vào chiều sâu, tạo được sự chuyển biến tích cực về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; ý thức trách nhiệm đối với công việc được phân công.

         - Tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được củng cố kiện toàn. Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên được nâng lên; tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu nghị quyết. Số đảng viên của Đảng bộ đến cuối năm 2021 là 46.214, tăng gấp 4,67 lần so với số đảng viên khi mới tái lập tỉnh([1]). Nghiêm túc thực hiện việc sắp xếp tổ chức, bộ máy và tinh giản biên biên chế, đến cuối năm 2021, đã giảm 3.245/23.444 biên chế công chức viên chức đạt 13,84% so năm 2015.

         - Công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, quan tâm lãnh đạo công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Thực hiện đúng quy chế về nhận xét đánh giá cán bộ. Phát huy dân chủ trong công tác bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, phân công cán bộ. Tiếp tục quan tâm thu hút, tạo nguồn cán bộ và thực hiện tốt chính sách cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng.

         - Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, hiệu quả nâng lên; nội dung kiểm tra, giám sát phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; đã chú trọng hơn trong việc kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị; chỉ đạo giải quyết kịp thời một số vụ việc bức xúc, đơn, thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ, đảng viên, xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

         - Công tác dân vận được đổi mới theo hướng sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tham gia giải quyết những vấn đề phức tạp, bức xúc, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ngay từ cơ sở.

         - Tập trung chỉ đạo công tác công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức ở một số lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng; thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động cơ quan, việc kê khai và kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, tích cực thu hồi tài sản tham nhũng;

         - Nội dung, phương thức lãnh đạo của các cấp ủy được đổi mới, phát huy trí tuệ của tập thể, nêu cao tinh thần, trách nhiệm của người đứng đầu; dành nhiều thời gian đi cơ sở để kiểm tra tình hình và giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho cơ sở.

         Những kết quả của công tác xây dựng Đảng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững trật tự, an toàn xã hội, tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển của tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới,

         Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng vẫn còn những hạn chế, yếu kém:  Tính chiến đấu, tính thuyết phục trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng tuy có nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu;; công tác nắm bắt, xử lý tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp nảy sinh có lúc, có nơi chưa kịp thời. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở, nhất là những nơi có tình hình an ninh, trật tự phức tạp. Một số cấp ủy chưa quan tâm đúng mức công tác cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc; vẫn còn tình trạng nể nang trong đánh giá, nhận xét cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát còn một số hạn chế, chưa chủ động hoặc chậm phát hiện, xử lý kịp thời các khuyết điểm, vi phạm; khắc phục những hạn chế, yếu kém sau kiểm tra còn chậm. Công tác tự kiểm tra, tự phát hiện tham nhũng, lãng phí trong nội bộ ở một số cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên; Công tác vận động quần chúng chuyển biến chưa đều ở các địa bàn, lĩnh vực; đổi mới nội dung, hình thức hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu.

         Từ những việc làm được và những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

         Một là, quán triệt và cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng Đảng phù hợp với thực tế của Đảng bộ; thực hiện các nguyên tắc của Đảng; kịp thời sơ, tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện, nghiêm túc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chủ trương, đường lối, Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước..

         Hai là, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ, trước hết trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp, làm cơ sở cho khối đoàn kết, gắn bó các dân tộc, tôn giáo trong tỉnh; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng.

         Ba là, quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phân công, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ; các đồng chí trong cấp uỷ các cấp, đặc biệt là người đứng đầu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn và thực tiễn, có tinh thần trách nhiệm, thật sự có uy tín trong Đảng bộ và Nhân dân.

         Bốn là, xác định quan điểm phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong quá trình lãnh đạo công tác xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

         Năm là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong từng giai đoạn phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, đột phá để có sự tập trung, dồn sức, tạo ra động lực, sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, từng ngành. Đồng thời, thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc.

         Hướng tới kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng bộ tỉnh (1930 - 2022), 30 năm tái lập tỉnh (5/1992 - 5/2022), Trà Vinh tập trung phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, xây dựng con người, bảo vệ môi trường. Tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Riêng về công tác xây dựng Đảng, tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm dưới đây:

         Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; thực hiện nghiêm chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội; chủ động dự báo tình hình, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và Nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây rối, chia rẽ đoàn kết nội bộ. Quản lý và đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong việc lập và sử dụng mạng xã hội trên Internet theo Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 19/6/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủyvề việc tiếp cận, xử lý và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trên địa bàn tỉnh”.

         Thứ hai, triển khai thực hiện Kế hoạch 35-KH/TU ngày 28/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “Thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; đưa việc học tập và "làm theo" Bác bằng những hành động cụ thể, hằng ngày, bằng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tạo sự lan toả tích cực trong Đảng bộ và toàn xã hội; đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp theo Quy định 4495-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ([2]), Quy định 37-QĐ/TW của Trung ương về ”Những điều đảng viên không được làm”. Rà soát, bổ sung hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, đạo đức công vụ, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng và Nhân dân. Kiên quyết chống biểu hiện bè phái, cục bộ địa phương. Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với triển khai thực hiện Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành TW (khoá XIII) về "Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", Xem đây là nhiệm vụ trọng tâm,  thường xuyên của mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, của hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên.

         Thứ ba, nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm. Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng những nhân tố tích cực trong đoàn viên thanh niên, công nhân, người lao động, nữ, người dân tộc, trí thức có thành tích, gương mẫu trong các phong trào, có uy tín trong Nhân dân; thường xuyên rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng theo Chỉ thị số 28-CT/TW của Ban Bí thư.

         Thứ tư,  tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp từ tỉnh đến cơ sở có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc Khmer. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể, với kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Chủ động phát hiện, quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chuẩn bị cho nhiệm kỳ tiếp theo, bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý.

         Thứ năm, triển khai thực hiện Chỉ thị 09-CT/TU, ngày 06/10/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng , tiêu cực”, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở.

         Thứ sáu, thực hiện Kế hoạch 30-KH/TU, ngày 09/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng”, nâng cao hiệu quả giám sát chuyên đề, tập trung giám sát cán bộ, đảng viên có lời nói, việc làm biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" ngay tại chi bộ, đảng bộ cơ sở. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tự phê bình và phê bình, thực hiện trách nhiệm nêu gương và khắc phục khuyết điểm của tập thể, cá nhân.

         Nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân; giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; của báo chí và Nhân dân. Chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ, đảng viên và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị.

           Thứ bảy, triển khai thực hiện Kế hoạch số 31-KH/TU ngày 09/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác dân vận”, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền các cấp. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tăng cường trách nhiệm giải trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước về tiếp, đối thoại với công dân; tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình nêu gương sáng, có sức lan tỏa lớn trong Đảng và xã hội.

         Thư tám, tiếp tục cải tiến lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả công tác của các cấp ủy. Cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành phải đi sát cơ sở, sát nhân dân, kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Đảng. Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng các cuộc hội nghị; đổi mới việc ban hành nghị quyết, chương trình hành động... của các cấp ủy.

         Đây là những nhiệm vụ khó khăn, nặng nề, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Trà Vinh phát huy truyền thống đoàn kết, nêu cao ý chí và nghị lực, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phấn đấu xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


[1] Khi mới tái lập tỉnh toàn Đảng bộ có 9.894.đảng viên

[2] Quy định 4495-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên BTV, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành trong tỉnh Trà Vinh”.

Trần Bình Trọng

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật

Tin khác
1 2 3 4 5  ... 
TUYÊN TRUYỀN


 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 4
  • Hôm nay: 117
  • Trong tuần: 930
  • Tất cả: 437113