NỘI DUNG, Ý NGHĨA CHỦ ĐỀ CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH TRÀ VINH LẦN THỨ XI NHIỆM KỲ 2020 - 2025
Thực hiện Kế hoạch số 02-KH/TBVKĐH, ngày 26/3/2020 của Tiểu ban Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh về “Tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI”. Báo Trà Vinh, Đài Phát thanh - Truyền hình Trà Vinh, Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Trang tin điện tử (Website) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã đăng, đọc dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 nhằm lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Báo cáo Chính trị có chủ đề là “Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ, đoàn kết, đổi mới sáng tạo; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững; phấn đấu đến năm 2025 tỉnh Trà Vinh trở thành tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long”. 

Chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị được nêu ngắn gọn, xúc tích, có tính khái quát cao, nêu bật được những thành tố quan trọng nhất, những định hướng lớn nhất, có tính chỉ đạo tư tưởng và hành động của toàn đảng bộ, toàn dân, toàn quân; mục tiêu động lực phát triển của đảng bộ; khẳng định rõ quyết tâm của toàn đảng bộ, toàn quân và toàn dân tỉnh nhà trong nhiệm kỳ tới.

Bài viết dưới đây góp phần làm rõ nội dung các thành tố trong chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tham gia đóng góp ý kiến vào Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

 Thành tố thứ nhất: Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Từ khi giành được chính quyền, Đảng vừa là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động các tổ chức của hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín, vị thế, địa vị cầm quyền của Đảng. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.

 Thực hiện quan điểm trên, những năm qua, Đảng bộ tinh Trà Vinh luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của tỉnh trong sạch, vững mạnh và đã đạt được những kết quả quan trọng như Dự thảo Báo cáo Chính trị có đánh giá và được xem là một trong những nguyên nhân của những thành tựu đạt được, đồng thời cũng là kinh nghiệm quý giá trong quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Tuy nhiên, Dự thảo Báo cáo Chính trị cũng nhìn nhận công tác xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị cũng còn những hạn chế yếu kém cần khắc phục, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng, trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động...

Vì vậy, việc tập trung xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch vững về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức trong thời gian tới là một yêu cầu cấp thiết và là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu để Đảng bộ đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đề ra.

Để xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh cần quan tâm thực hiện: (1) Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và XII) gắn với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; (2) Tổ chức quán triệt vận dụng quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương để xây dựng nghị quyết, chương trình, kế hoạch sát hợp, có tính khả thi và tổ chức thực hiện có hiệu quả; (3) Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp công tác tư tưởng của Đảng  bộ, tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng bộ (4) Tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy, gắn với tinh giản biên chế, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống chính trị; đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy; (5) Thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền làm chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở và kịp thời thay thế người không đủ tín nhiệm. Phát huy dân chủ phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật; (6) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ tỉnh đến cơ sở chuẩn hóa, có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ.

 Thành tố thứ hai: Phát huy dân chủ, đoàn kết, đổi mới sáng tạo

 - Phát huy Dân chủ: Đảng ta xác định: dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, đó cũng là mục tiêu, động lực của công tác xây dựng Đảng. Để thực hiện dân chủ trong toàn Đảng bộ, phải thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ thật sự trong sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức Đảng, trong chi bộ, nhất là phát huy quyền và nghĩa vụ của đảng viên tham gia công việc của chi bộ, đảng bộ. Giữ vững chế độ sinh hoạt định kỳ của các tổ chức đảng, khuyến khích tranh luận thẳng thắng; tôn trọng, tập hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của cấp ủy viên và đảng viên trước khi quyết định. Khi có ý kiến khác nhau phải tranh luận kỹ, đối với những vấn đề quan trọng phải biểu quyết. Có như vậy mới phát huy được mọi sáng kiến và trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên, là điều kiện để tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, đảm bảo những chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy Đảng sát đúng tình hình của địa phương, đơn vị, mang tính khả thi cao. Thực hiện dân chủ trong Đảng, đồng thời mở rộng dân chủ ngoài xã hội, chú trọng thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn và dân chủ trong cơ quan, đơn vị; phải thường xuyên gặp gỡ, lắng nghe và nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các tầng lớp nhân dân; thực hiện giám sát và phản biện các chủ trương, chính sách tạo nên sự đồng thuận ở mức độ tự giác, chân thành và có trách nhiệm.

- Đoàn kết là truyền thống vô cùng quý báu của Đảng và Nhân dân ta nói chung, của Đảng bộ và Nhân dân Trà Vinh nói riêng, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và Nhân dân Trà Vinh được Trung ương tặng 8 chữ vàng:“Toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công”; đồng thời, đoàn kết còn là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì vậy, chúng ta cần giữ gìn, phát huy truyền thống và tăng cường đoàn kết, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng Đảng bộ, xây dựng quê hương, đất nước. Để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết các cấp ủy Đảng phải xây dựng nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch đúng đắn, sát hợp tình hình, có tính khả thi cao, tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng; phải thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, chăm lo củng cố tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong từng chi bộ, đảng bộ, chống chủ nghĩa cá nhân; bố trí đúng người đứng đầu tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể; xây dựng và thực đúng quy chế làm việc. Đồng thời với việc giữ vững đoàn kết thống nhất trong Đảng, chú trọng xây dựng khối đoàn kết gắn bó giữa đồng bào Kinh - Khmer - Hoa và đồng bào các dân tộc thiểu số khác sinh sống trên địa bàn; đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, tạo sự đồng thuận trong xã hội.     Kiên quyết đấu tranh chống những hành vi gây mất đoàn kết nội bộ, gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chia rẽ Nhân dân với Đảng, chính quyền.

- Đổi mới sáng tạo: Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. Đổi mới sáng tạo giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời là yếu tố không thể thiếu góp phần tạo thêm việc làm. Tri thức và sáng tạo đang trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế của mỗi địa phương và của mỗi quốc gia.

Xác định rõ vai trò quan trọng của đổi mới sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành đã có nhận thức và quan điểm đúng đắn, khích lệ và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo, đặc biệt là các hoạt động khởi nghiệp. Theo đó, một số văn bản Chỉ đạo của Tỉnh ủy và các cơ chế, chính sách của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và các hoạt động hỗ trợ đã được triển khai trên địa bàn tỉnh, cụ thể như: Chỉ thị số 54-CT/TU ngày 25/12/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh”. Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo còn là một vấn đề mới, cần phải có sự tập trung triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Đổi mới sáng tạo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là yêu cầu cấp thiết cho việc thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế của tỉnh và việc tái cơ cấu các doanh nghiệp hiện nay. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm, một giải pháp cơ bản để kinh tế của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2025 tỉnh Trà Vinh trở thành tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long tham gia hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới.

Thành tố thứ ba: Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững

- Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực:

Nguồn lực bao gồm: Nguồn nhân lực (là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân); vật lực (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội) và tài lực (tài chính, ngân sách).

Trong nhiệm kỳ qua (2015-2020), việc huy động và sử dụng các nguồn lực đã được các cấp, các ngành tập trung thực hiện, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 114.707 tỷ đồng (gấp 1,45 lần so nhiệm kỳ trước), chiếm 48% GRDP, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh; tăng trưởng GRDP bình quân trong 5 năm ước đạt đạt 12,04%; GRDP bình quân người đạt 65 triệu đồng/người/năm; nhiều dự án, công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả

Tuy nhiên, việc huy động, sử dụng, phát huy các nguồn lực còn những hạn chế, bất cập như Dự thảo Báo cáo Chính trị nêu: kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ”; “giải ngân vốn đầu tư hàng năm thường chậm tiến độ”;“huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho giáo dục - đào tạo chưa nhiều, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội”;“Quản lý tài nguyên chưa chặt chẽ, còn tình trạng khai thác trái phép”; “nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển”.

Vì vậy, để phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi phải có những giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực là một trong những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng để khắc phục các tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh theo các mục tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XI đề ra.

* Đối với nguồn nhân lực: Tăng cường đầu tư cho các cơ sở đào tạo của tỉnh để nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế của tỉnh (tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; trong đó: có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35% kéo giảm tỷ trong lao động nông nghiệp đến năm 2025 còn 35% trong tổng lao động xã hội); phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, có đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu.

* Đối với nguồn vật lực: Rà soát, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách để quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của tỉnh (đất, nước, rừng, biển, cảnh quan...). Thực hiên quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất; tăng cường công tác quản lý, chuyển đổi sử dụng hợp lý và hiệu quả diện tích đất phục vụ cho yêu cầu phát triển; khảo sát, điều tra xác định đất bãi bồi, cồn mới nổi để quy hoạch, quản lý, khai thác và sử dụng; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tiếp tục nâng cao tỉ lệ che phủ rừng và chất lượng rừng. Xây dựng chiến lược phát triển tổng hợp kinh tế biển; phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; đẩy mạnh công tác thăm dò, đánh giá tiềm năng nước mặt và nước ngầm.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, kết nối thuận tiện, nhanh chóng đến các vùng, miền trong cả nước, khu vực và với quốc tế.

* Đối với nguồn tài lực: Tập trung huy động vốn đầu tư toàn xã hội trong 05 năm tới đạt khoảng 160.000 tỷ đồng. Tăng cường các biện pháp để quản lý và bồi dưỡng nguồn thu, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật, đảm bảo thu ngân sách bình quân hàng năm tăng 12%/năm. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước, bảo đảm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng đầu tư cho phát triển. Hoàn thành thoái vốn các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối; tiếp tục sắp xếp, nâng cao tính tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

- Phát triển nhanh và bền vững

* Phát triển nhanh: Là phải đạt tốc độ tăng trưởng GDRP hàng năm cao hơn mức bình quân chung của cả nước và các tỉnh, thành khu vực, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước.

* Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt: Phát triển kinh tế, nhất là tăng trưởng kinh tế. Phát triển xã hội, nhất là thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, nhất là xử lí, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường.

Để phát triển nhanh và bền vững, phải tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo bước chuyển nền kinh tế của tỉnh sang mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng năng suất lao động, hàm lượng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo thúc đẩy khởi nghiệp, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp địa phương có thế mạnh, đồng thời thích ứng với yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đổi mới phương thức quản lý, quản trị theo hướng hiện đại. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động xã hội sang những ngành, lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển tỉnh Trà Vinh trở thành trung tâm kinh tế biển, trung tâm giao thương và trung tâm năng lượng sạch của Đồng bằng sông Cửu Long. Phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ; xây dựng văn hóa và con người Trà Vinh phát triển toàn diện; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân; thực hiện tốt chính sách đối với người có công, giải quyết việc làm, thực hiện giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

 4. Phấn đấu đến năm 2025 tỉnh Trà Vinh trở thành tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long”.

Đây là thành tố nói về mục tiêu của nhiệm kỳ Đại hội. Trong nhiệm kỳ qua (2015-2020), tăng trưởng bình quân chung của tỉnh đạt 12,04%, so với mức bình quân chung của cả nước (6,8%), mức tăng trưởng này khá cao. Tuy nhiên, với xuất phát điểm thấp, mức tăng trưởng này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu của tỉnh với các tỉnh trong khu vực và cả nước, đồng thời chất lượng tăng trưởng của tỉnh chưa mang tính vững chắc, còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố (hiện nay xét về Quy mô nền kinh tế (GRDP theo giá hiện hành) Trà Vinh xếp thứ 7/13 tỉnh, thành Đồng bằng sông Cửu Long; GRDP bình quân đầu người xếp thứ 3/13 tỉnh, thành; tỷ lệ hộ nghèo xếp thứ 10/13 tỉnh, thành). Vì vậy, để sớm vươn lên, rút ngắn khoảng cách so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, Dự thảo Báo cáo Chính trị đề ra mục tiêu Phấn đấu đến năm 2025 tỉnh Trà Vinh trở thành tỉnh phát triển trong nhóm đầu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long”. Thể hiện khát vọng mạnh mẽ, quyết liệt của toàn Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà.

Hiểu rõ nội dung, ý nghĩa chủ đề của Báo cáo Chính trị chính là hiểu được những vấn đề cốt lõi của Báo cáo Chính trị.

                                           (Trần Bình Trọng-UVTV Tỉnh ủy-

Trưởng Ban Tuyên giáo TU - Tổ trưởng Tổ biên tập Văn kiện Đại hội)

Tin khác
1 2 3 4 
TUYÊN TRUYỀN


 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 3
  • Hôm nay: 14
  • Trong tuần: 745
  • Tất cả: 439603