Chủ động xuống giống và chăm sóc vụ lúa thu đông – mùa 2023
Vụ lúa Thu Đông - Mùa là vụ có nhiều tiềm ẩn và rủi ro trong sản xuất như: Thời tiết diễn biến khá phức tạp, có nhiều cơn bão gây mưa lớn, ngập lụt trên diện rộng; phần lớn các cơn bão lại trùng vào giai đoạn lúa phát triển mạnh và giai đoạn lúa làm đòng -trổ; điều kiện thời tiết rất thuận lợi cho một số dịch bệnh phát sinh, phát triển; cùng với tình trạng ngộ độc hữu cơ cho cây lúa ngay đầu vụ,... không những làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng mà còn giảm đáng kể chất lượng lúa. 

Ảnh: Xử lý rơm, rạ trên ruộng

         Vụ lúa Hè Thu 2023 đến thời điểm hiện tại thu hoạch đạt 57,06 % so với diện tích xuống giống; năng suất bình quân 5,31 tấn /ha, sản lượng 207.180,4 tấn. Vụ Thu Đông - Mùa xuống giống đạt 18,6 % so kế hoạch (69.000 ha); các giai đoạn sinh trưởng: Mạ 5.606,4 ha; đẻ nhánh 7.150,4 ha; gieo mạ a 43 ha (huyện Cầu Ngang 12 ha và Châu Thành 31 ha). Hiện tại nông dân đang khẩn trương cho việc xuống giống vụ Thu Đông - Mùa; thời tiết vào cuối vụ lúa Hè Thu diễn biến khá phức tạp xuất hiện nhiều đợt mưa lớn liên tục, kéo dài làm ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thu hoạch. Bà con nông dân gặp khá nhiều khó khăn  trong việc xử lý rơm, rạ. Vì vậy, phần lớn bà con chọn cách bừa vùi rơm rạ để chuẩn bị xuống giống cho kịp  mùa vụ sản xuất. Tuy nhiên, với các biện pháp vừa vùi này nếu không xử lý kỷ, cây lúa rất dễ bị ngộ độc hữu cơ ở giai đoạn sau.

 

 Ảnh:  Trục vùi rơm rạ và sạ lúa

          Đchủ động hơn trong canh tác vụ lúa Thu Đông - Mùa được an toàn, hạn chế thiệt hại do ảnh hưởng bởi mưa, bão quản lý- phòng trừ dịch hại đạt hiệu quả cao, cần thực hiện gói biện pháp kỹ thuật ngay đầu vụ trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác cây lúa như: IPHM, 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, SRI, tưới tiết kiệm nước,… với một số lưu ý như sau:

         - Vận động, khuyến cáo bà con nông dân tuân thủ lịch thời vụ theo khuyến cáo của ngành Nông nghiệp (Tại Thông báo số 440/TB-SNN ngày 01/8/2023) và địa phương; thực hiện việc xuống giống đồng loạt, tập trung né rầy theo từng vùng, từng cánh đồng trên những địa phương có đặc thù riêng.

       * Về khâu làm đất:

         - Vệ sinh đồng ruộng: Tiến hành xử lý rơm, gốc rạ và cỏ quanh bờ,... bằng cách thu gom và vận chuyển rơm tươi ra khỏi ruộng sau thu hoạch; có thể sử dụng nấm Trichoderma hoặc các chế phẩm sinh học giúp phân hủy rơm, rạ sau đó cày xới phơi đất từ 7 - 15 ngày giúp khoáng hóa chất hữu cơ, nhằm hạn chế hiện tượng thối rễ cho lúa (do ngộ độc), đồng thời cắt đứt nguồn ký chủ của sâu, bệnh trên đồng ruộng. Đặc biệt hạn chế tối đa ngộ độc hữu cơ ở giai đoạn đầu của cây lúa.

         - Bón vôi vùi vào trong đất với liều lượng từ 50 - 100 kg cho 1.000 m2 trước gieo sạ 5-7 ngày.

         - Tranh thủ cày, xới, trục (bừa) vùi rơm, rạ mới thu hoạch, làm đất thật kỹ ứng dụng cơ giới hóa sản xuất lúa nhằm giảm chi phí và canh tác thích ứng trong điều kiện mưa, bão; kết hợp đánh nhiều rãnh thoát nước để hạn chế ngập úng.

         *Chọn giống và gieo sạ:                                

         - Sử dụng giống lúa theo khuyến cáo của ngành, cấp giống xác nhận, giống có năng suất và chất lượng cao, có tiềm năng đáp ứng thị trường tiêu thụ, thích nghi rộng và có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của thời tiết và dịch bệnh như sau:

         + Nhóm giống lúa chất lượng cao chủ lực: OM 5451, OM 18, OM 4900.

         + Nhóm giống lúa bổ sung: Đài Thơm 8, OM 9517, OM 9921, OM 429, RVT,  nhóm giống lúa ST (ST5, ST 20, ST 24, ST 25).

         + Nhóm giống lúa chất lượng trung bình: IR 50404, ML 202, Siêu Hầm Trâu

         +  Nhóm giống lúa mùa: Tài nguyên, một Bụi, lúa Sỏi.

         + Áp dụng phương pháp sạ lúa theo hàng hoặc sạ thưa.

         + Lượng giống gieo sạ không vượt hơn 120 kg/ha.

         *Chăm sóc.

         - Quản lý nguồn nước tưới: Điều chỉnh lượng nước theo nhu cầu phát triển của cây lúa; ứng dụng tối đa các giải pháp tưới tiết kiệm nước (ướt khô xen kẽ) cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây, nhưng vẫn đảm bảo được việc quản lý cỏ dại, dịch hại và tăng hiệu quả sử dụng phân bón, nhằm hạn chế chồi vô hiệu. Đặc biệt, là điều chỉnh mực nước giai đoạn trổ - chín nhằm hạn chế đỗ ngã, giảm thất thoát trong quá trình thu hoạch.

         - Dặm tỉa:

         + Không nên để ruộng quá dày lúa sẽ đẻ nhánh ít, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp, sâu bệnh nhiều.

         + Tiến hành dặm tỉa sớm khi cây lúa từ 12 - 15 ngày sau sạ (tối đa 18 ngày sau sạ); sớm ổn định mật độ cây/m2, giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển đồng đều, tăng số chồi hữu hiệu và đảm bảo số bông/m2 .

          - Phân bón:

         + Bón phân theo nhu cầu phát triển của cây lúa, cân đối đạm, lân và kali. Có thể sử dụng phân hỗn hợp NPK theo liều lượng khuyến cáo trên cây lúa hoặc kinh nghiệm qua thực tế nhằm tạo điều kiện lúa đẻ nhánh tốt, tăng chồi hữu hiệu. Vụ Thu Đông - Mùa cây lúa phát triển trong điều kiện mùa mưa, bão nhiều. Vì thế cần tăng cường sử dụng các sản phẩm phân bón có chứa canxi và silíc; ưu tiên sử dụng các loại phân bón có nguồn gốc sinh học, bổ sung các loại phân bón cung cấp qua lá, bón phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng,... để tăng sức chống chịu cho cây lúa trong điều kiện bất lợi của thời tiết.

Ảnh: Xử lý thuốc trừ cỏ trên ruộng lúa

         *Phòng trừ dịch hại trên đồng ruộng

         - Quản lý cỏ dại:

           Đây là đối tượng dịch hại quản lý và phòng trừ tốn nhiều chi phí  nên quản lý tốt ngay đầu vụ:

           + Trước khi gieo sạ 7-10 ngày có thể chủ động nhử cỏ dại bằng cách: Đưa nước vào ruộng cho đủ ẩm để nhử cỏ mọc, sau đó sử dụng thuốc trừ cỏ (không chọn lọc) xử lý nhằm hạn chế mật độ cỏ dại ngay đầu vụ (nếu được).

         + Ngăn ngừa hoặc hạn chế cỏ dại vào ruộng từ hạt giống: Sử dụng giống sạch hạt cỏ (giống cấp xác nhận hay giống nguyên chủng).

         + Vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo sạ.

         + Xử lý cỏ dại bằng thuốc hóa học: Tùy theo điều kiện từng vùng (khu vực) nên phòng trừ cỏ dại cho phù hợp. Có thể sử dụng các loại thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm nhằm khống chế cỏ dại và lúa cỏ ngay đầu vụ; hoặc xử lý thuốc trừ cỏ hậu nảy mầm khi chưa chủ động quản lý được nguồn nước tưới.

          - Sâu bệnh hại:

          Vụ Thu Đông-Mùa do mưa, bão thường xuyên xảy ra thuận lợi cho một số đối tượng dịch hại phát sinh, phát triển và gây hại trên diện rộng như: Đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, các bệnh do vi khuẩn (bạc lá, sọc trong, thối thân,...); sâu cuốn lá, sâu đục thân, nhện gié, rầy nâu (cuối vụ). Đặc biệt là chuột, đây là đối tượng có khả năng gây hại trên diện rộng, gây nặng khi nguồn thức ăn và nơi cư trú bị xâm hại (mưa nhiều gây ngập hang và nơi cư trú,…)

         Để quản lý và phòng trừ các đối tượng dịch hại trong vụ Thu Đông-Mùa 2023 bà con nông dân cần: (1) Thăm đồng thường xuyên, sớm phát hiện dịch hại tiến hành phòng trị tránh lây lan diện rộng;(2) Theo dõi bản tin tình hình dịch hại của vùng hoặc truy cập vào Mekong RYNAN cập nhật diễn biến côn trùng vào đèn (hệ thống giám sát côn trùng thông minh) để có các biện pháp xử lý chủ động kịp thời mang hiệu quả cao nhất; (3) Hạn chế phun thuốc trừ sâu sớm (lúa dưới 40 ngày sau sạ) để bảo tồn thiên địch, tránh sâu- rầy gây hại bộc phát ở giai đoạn sau.

         *Lưu ý:

- Phun thuốc BVTV cần tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng”.

          - Chọn các loại thuốc BVTV có hoạt chất được phép sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp - PTNT ban hành.

ThS. Nguyễn Thị Lùng

TUYÊN TRUYỀN


 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 2
  • Hôm nay: 16
  • Trong tuần: 738
  • Tất cả: 439281