Một số góp ý cho Dự thảo Thông tư về Ứng phó với biến đổi khí hậu
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 10 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 nhằm mục tiêu thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cải cách thể chế môi trường của Việt Nam tiệm cận hài hòa với chính sách pháp luật bảo vệ môi trường trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Mục tiêu cao nhất là cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân, cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền vững.

PGS.TS. Phùng Chí Sỹ - Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (ảnh st)

         Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các nhà khoa học đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) và bảo vệ tầng ô-dôn và đã đưa lên Cổng thông tin điện tử xin ý kiến tham vấn của các bên liên quan và những tổ chức, cá nhân quan tâm. Song song với quá trình soạn thảo Nghị định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang soạn thảo Thông tư Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là một bước cực kỳ quan trọng nhằm cụ thể hóa một số quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện.

         Dự thảo Thông tư này quy định chi tiết Điểm g, Khoản 2 Điều 27; Điểm c Khoản 3, Điều 90; Điểm c, Khoản 4, Điều 91; Điểm b, Khoản 3 và Khoản 6, Điều 92 Luật BVMT năm 2020 và một số điều, khoản của Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) và bảo vệ tầng ô-dôn (cũng đang hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành). Thông tư gồm 5 chương, 24 điều : Quy định chung (Chương I, 03 Điều); Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (Chương II, 6 Điều), Thẩm định kết quả kiểm kê khí nhà kính và thực hiện giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với lĩnh vực, cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (Chương III, 7 Điều); Danh mục và hướng dẫn sử dụng các chất làm suy giảm tầng Ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát (Chương IV, 06 Điều); Điều khoản thi hành (Chương V, 02 Điều). Cuối dự thảo Thông tư là 3 Phụ lục : Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (Phụ lục I gồm Phụ lục I.1, 1.2); Thẩm định kết quả kiểm kê khí nhà kính và thực hiện giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với lĩnh vực, cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (Phụ lục II gồm các phụ lục II.1 đến II.4); Danh mục và hướng dẫn sử dụng các chất làm suy giảm tầng Ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát (Phụ lục III gồm các phụ lục III.1 đến III.6).

         Theo như bản góp ý cho Dự thảo Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu của PGS.TS. Phùng Chí Sỹ - Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng, ở Điều 6, do tại khoản 8, điều 3 có định nghĩa “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu là việc xác định các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực; xác định tính dễ bị tổn thương, rủi ro và tổn thất, thiệt hại do biến đổi khí hậu đến hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội trong một phạm vi không gian và thời gian xác định”, nên cần bổ sung các thông tin, dữ liệu phục vụ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu liên quan đến mức độ phơi bày, mức độ nhạy cảm, khả năng thích ứng phục vụ xác định tính dễ bị tổn thương; bổ sung thông tin về các hiểm họa, xác xuất hiểm họa, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đến hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội trong quá khứ phục vụ đánh giá rủi ro hồi cố của biến đổi khí hậu.

         PGS Sỹ cũng cho biết thêm, Điểm a, Khoản 5, Điều 8: Cần sắp xếp các phương pháp xác định tác động của biến đổi khí hậu từ định tính đến định lượng, từ đơn giản đến phức tạp. Bổ sung vào nhóm các phương pháp định tính: Phương pháp lập bảng liệt kê (Checklist), phương pháp mạng lưới (Network); Bổ sung vào nhóm các phương pháp định lượng: Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid assessment).

Điểm b, Khoản 5, Điều 8, như đã góp ý tại điều 3 ở trên, do rủi ro gây ra tổn thất và thiệt hại, nên chuyển phương pháp xác định rủi ro sang cùng với nhóm phương pháp xác định tổn thất và thiệt hại tại Điểm c, Khoản 5 sẽ hợp lý hơn. Nên phân biệt rõ những phương pháp xác định rủi ro hồi cố và các phương pháp đánh giá rủi ro dự báo. Xem xét bổ sung các phương pháp còn thiếu như góp ý tại Điểm a, Khoản 5 vào các phương pháp trình bày tại các Điểm b, c, Khoản 5.

         Điểm a, Khoản 8, Điều 8, cần làm rõ “chỉ số tổn thất và thiệt hại” được xác định trên cơ sở các “chỉ thị”, “thông số” nào, đồng thời chỉ rõ phương pháp xác định các “chỉ thị”, “thông số” đó. Ví dụ, “chỉ số tổn thất và thiệt hại” được xác định trên cơ sở các “chỉ thị tổn thất và thiệt hại về kinh tế”, “chỉ thị tổn thất và thiệt hại với hệ thống tự nhiên”, “chỉ thị tổn thất và thiệt hại về xã hội”. Ví dụ: “chỉ thị tổn thất và thiệt hại kinh tế” được xác định dựa trên các “thông số tổn thất và thiệt hại” về sản xuất, thương mại, dịch vụ, cơ sở hạ tầng, nhà ở và tài sản, thu nhập, việc làm và các thông số khác. “Chỉ thị tổn thất và thiệt hại với hệ thống tự nhiên” được xác định dựa trên các “thông số” mất đất do ngập lụt, sạt lở, nhiễm mặn, mất đa dạng sinh học, suy giảm dịch vụ hệ sinh thái. “Chỉ thị tổn thất và thiệt hại về xã hội” được xác định dựa trên các “thông số” thiệt hại về người, sức khỏe, tri thức truyền thống, di sản văn hóa và các thông số khác.

         Ngoài ra, theo PGS Sỹ, tại Phụ lục I.1, xem lại “Hướng dẫn lựa chọn, xác định các chỉ số phản ánh tính dễ bị tổn thương, rủi ro do biến đổi khí hậu” vì có một số sự nhầm lẫn và sai sót như góp ý về Điều 3 và Điều 8 ở trên. Cần phải xác định rất rõ giữa 3 khái niệm “thông số”, “chỉ thị”, “chỉ số” từ đó sửa chữa Phụ lục I.1 cho phù hợp.

         Ví dụ về ma trận sàng lọc tác động, rủi ro tại bảng 1 chưa chính xác. Nếu mỗi thông số đánh giá rủi ro (4 thông số: mức độ nghiêm trọng của bão, thay đổi lượng mưa, thay đổi nhiệt độ, mực nước biển dâng) có giá trị từ 1 (rủi ro thấp nhất) đến 5 (rủi ro cao nhất) thì điểm tổng cộng của 4 thông số này sẽ giao động từ 4 đến 20 điểm. Nếu phân chia mức độ rủi ro thành 3 cấp độ : thấp (ví dụ: tổng điểm từ 4 đến 9), trung bình (ví dụ : tổng điểm từ 10 đến 15), cao (ví dụ: tổng điểm từ 16 đến 20) thì rủi ro đối với chăn nuôi (tổng điểm 8) thuộc loại thấp; rủi ro đối với trồng trọt (tổng điểm là 13) thuộc loại trung bình; rủi ro đối với thủy lợi (tổng điểm là 9) thuộc loại thấp; rủi ro đối với thủy sản (tổng điểm là 11) thuộc loại trung bình; rủi ro đối với diêm nghiệp (tổng số điểm là 10) thuộc loại rủi ro trung bình. Hơn nữa, cũng cần phải hướng dẫn phương pháp chấm điểm từng thông số (khi nào thì cho điểm 1, 2, 3, 4, 5). Việc chia mức độ rủi ro thành 3 cấp (thấp, trung bình, cao) tại bảng 1 cũng mâu thuẫn với Điểm g, Khoản 6, Điều 8 ở trên khi phân cấp tính dễ bị tổn thương, rủi ro (chỉ số nằm trong khoảng từ 0 đến 1) thành 5 cấp : Tính dễ bị tổn thương, rủi ro rất thấp (chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro từ 0 đến 0,2); Tính dễ bị tổn thương, rủi ro thấp (chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro từ trên 0,2 đến 0,4); Tính dễ bị tổn thương, rủi ro trung bình (chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro từ trên 0,4 đến 0,6); Tính dễ bị tổn thương, rủi ro cao (chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro từ trên 0,6 đến 0,8); Tính dễ bị tổn thương, rủi ro rất cao (chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro từ trên 0,8 đến 1,0).

         Nên viết hướng dẫn tính chỉ số dễ bị tổn thương, rủi ro dưới dạng quy trình gồm các bước, mỗi bước làm gì chứ không nên viết quá lan man, lý thuyết sau này rất khó áp dụng thực tế. Cần hướng dẫn cụ thể về phương pháp thu thập, đo đạc, tính toán các thông số để tính toán các chỉ thị (hay chỉ số thành phần) về mức độ phơi bày, mức độ nhậy cảm, khả năng thích ứng, cuối cùng là tính toán chỉ số dễ bị tổn thương.

         Nên tách hướng dẫn tính toán chỉ số dễ bị tổn thương và chỉ số rủi ro thành hai mục riêng biệt vì như trên đã trình bày rủi ro và dễ bị tổn thương là 2 nội dung khác nhau, thông số đánh giá rủi ro và dễ bị tổn thương khác nhau, phương pháp tính toán cũng khác nhau. Để đánh giá rủi ro cần phải xác định được các thông số đánh giá hiểm họa, thông số đánh giá tổn thất và thiệt hại. Nếu gộp cả các chỉ thị đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro vào các bảng 3, 4 sẽ gây nhầm lẫn giữa 2 chỉ số và khó khăn cho quá trình đánh giá.

Nguồn: Liên hiệp hội Việt Nam

TUYÊN TRUYỀN


 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 4
  • Hôm nay: 44
  • Trong tuần: 806
  • Tất cả: 439021